Bán độc quyền ca khúc xong có nên bán độc quyền tiếp không?

Ngoài vấn đề về bản quyền tác giả/tác phẩm thì hiện tài đề tài về sử dụng độc quyền tác phẩm đang được quan tâm. Khi những ồn ào quanh việc mua bán độc quyền ca khúc giữa ca sĩ Cao Thái Sơn – nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung – ca sĩ Nathan Lee còn chưa lắng xuống, câu hỏi khác được đặt ra: Liệu vấn đề mua/bán độc quyền đã được hiểu đúng chưa và có còn phù hợp?

Theo nhạc sĩ Dương Trường Giang, sau thời gian bán độc quyền ca khúc ở lần đầu tiên, nhạc sĩ có quyền tiếp tục bán ca khúc độc quyền (cho một người toàn quyền sử dụng) hoặc bán tác quyền (cho nhiều người quyền sử dụng). Nhạc sĩ Nguyễn Hồng Thuận thì cho rằng: “Tôi chỉ bán độc quyền ca khúc với ca sĩ sử dụng lần đầu, còn những lần sau, là bán tác quyền”, và nói thêm: “Rất hiếm có ai bán độc quyền tác phẩm cho một ca sĩ/đơn vị khác sau khi đã từng có ca sĩ độc quyền và phát hành trước đó, vì như vậy sẽ bị va chạm chồng chéo rất nhiều giữa người sử dụng trước và sau. Không lẽ vì bán cho người sau rồi chúng ta bắt những người đã sử dụng trước không được biểu diễn nữa và gỡ hết các clip đã phát hành trước đó xuống?”.

Về trường hợp ca sĩ Nathan Lee vừa “mua đứt” những bản “hit” của Cao Thái Sơn do nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung sáng tác (Con đường mưa, Pha lê tím, Tình yêu trở lại, Cầu vồng sau mưa), nhạc sĩ Dương Trường Giang không đồng tình với cách cư xử của cả người bán lẫn người mua. “Nhạc sĩ có thể bán tác quyền cho ca sĩ Nathan Lee, nhưng bán độc quyền theo kiểu xóa sạch những ca khúc của chính mình trên nền tảng YouTube cũng như các nền tảng nghe nhìn khác do ca sĩ từng đưa tên tuổi của mình lên thể hiện thì thực sự không ổn”, nhạc sĩ Dương Trường Giang bày tỏ. “Đây có lẽ là lần đầu tiên có một cuộc “mua đứt bán đoạn” ca khúc như thế trong làng nhạc Việt. Nếu vì mục đích nghệ thuật thì có thể không nói vì mỗi nghệ sĩ có chiến lược riêng, và mua bán là quyền của người có nhu cầu (mua) và quyền của người sở hữu tác phẩm (bán), còn nếu vì mục đích cá nhân thì không nên để xảy ra việc như thế; bởi ca khúc đi vào đời sống đã mang dấu ấn cá nhân của ca sĩ từng thể hiện”, ông Long nhìn nhận.

Để ca khúc lan tỏa sâu rộng đến cộng đồng

Nhạc sĩ Nguyễn Hồng Thuận cho biết nếu ngày xưa ca sĩ mua độc quyền ca khúc với mục đích chính là đi diễn và ra CD không bị “đụng hàng” với ca sĩ khác, nguồn thu của ca sĩ từ ca khúc cũng chỉ từ việc biểu diễn sân khấu và kinh doanh CD, thì nay nguồn thu về từ một sản phẩm âm nhạc đa dạng hơn: ngoài biểu diễn, phát hành CD còn có thêm các nguồn từ những trang nhạc số, nghe nhạc trực tuyến, từ lượt xem clip ca khúc trên các nền tảng giải trí, các hoạt động phát sinh bản quyền trí tuệ từ bài hát đã thành sản phẩm. Vậy nên ở thời đại 4.0, việc nhạc sĩ đem bán độc quyền và bán đứt toàn quyền khai thác một ca khúc cho các đơn vị khác của nhạc sĩ, theo Nguyễn Hồng Thuận, là không còn phù hợp.

Cần hiểu rõ và hiểu đúng luật

Trao đổi về vấn đề mua bán độc quyền, bản quyền ca khúc, luật sư Phan Vũ Tuấn – Trưởng văn phòng luật sư Phan Law Vietnam, Phó chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ TP.HCM, cho rằng: “Theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ hiện hành tại VN, không tồn tại các thuật ngữ “bản quyền”, “độc quyền ca khúc” nay “tác quyền” mà chỉ tồn tại thuật ngữ là “quyền tác giả” và “quyền liên quan đến quyền tác giả”.

Pháp luật VN đã quy định rất rõ về quyền của tác giả đối với các tác phẩm của mình và cách thức chuyển giao các quyền này. Do đó, khi tiến hành việc cấp phép độc quyền, các bên cần phải làm rõ việc cấp phép ở đây là “chuyển nhượng quyền tác giả” hay là việc “chuyển quyền sử dụng quyền tác giả”. Trong trường hợp tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả xác nhận bán độc quyền ca khúc là hình thức “chuyển quyền sử dụng quyền tác giả” thì họ phải xác định một cách cụ thể, họ cấp phép quyền nào của họ, phạm vi sử dụng các quyền đó như thế nào, trong thời gian ra sao một cách kỹ lưỡng để tránh các tranh chấp phát sinh.

Bị 'tố' bán độc quyền ca khúc 40 triệu vẫn tự ý sử dụng

Luật sư Tuấn cho biết thêm, “cũng theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ, luật không quy định như thế nào là “bán độc quyền ca khúc” mà chỉ phân thành 2 trường hợp rõ ràng. Một là, chuyển nhượng quyền tác giả, là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao toàn bộ quyền tài sản của mình và quyền công bố tác phẩm được phép chuyển nhượng. Hai là, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, là việc chủ sở hữu quyền tác giả cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản, và quyền công bố tác phẩm của mình. Việc chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả cũng được yêu cầu thể hiện bằng văn bản và phải có đầy đủ các nội dung như hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả và có thêm một nội dung là “phạm vi chuyển giao quyền”.

“Có thể hiểu việc mua bán “độc quyền ca khúc”, mua bán “bản quyền”, mua bán “tác quyền” hiện nay do không dùng đúng thuật ngữ, cách hiểu của quy định pháp luật nên xảy ra các nhầm lẫn không đáng có. Cụ thể hơn, đó là không có các thỏa thuận một cách rõ ràng về “phạm vi chuyển giao trong các giao dịch” này dẫn đến việc mọi người sẽ hiểu sai phần quyền của các bên sau khi thực hiện việc mua bán “bản quyền”, “tác quyền”, “độc quyền” như đang diễn ra trong thực tế”, luật sư Tuấn nói.

Theo luật sư Phan Vũ Tuấn, “Cũng vì không rõ “phạm vi chuyển giao quyền” nên xảy việc cấp phép chồng chéo nhau giữa các bên được cấp phép. Và một trong những lý do khiến xảy ra tranh chấp nhiều nhất, là khi tác giả cấp phép lần đầu (độc quyền hoặc không), cả hai bên không lường trước đến phạm vi sử dụng có thể mở rộng đến các phương tiện kỹ thuật số hoặc trên môi trường mạng internet như hiện nay”.

Theo báo Thanh Niên

Bình luận